Thứ 5, ngày 14 tháng 11 năm 2019

 

BÀI GIẢNG, KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ Y HỌC
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
In bài viết
24-3-2017
Thuật ngữ các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) được sử dụng để mô tả các bệnh lan truyền bởi quan hệ tình dục. Mặc dù điều này thường có nghĩa là giao hợp tính dục, nó cũng bao gồm việc cọ xát cơ thể mật thiết như: hôn, kích dục bằng liếm hoặc mút, kích dục bằng liếm đít, kích thích dương vật bằng liếm hoặc mút, tiếp xúc miệng - vú, và giao hợp ngả hậu môn.

Nhiều BLTQĐTD cũng có thể lây truyền đến thai nhi trong tử cung bởi việc lan truyền qua bánh nhau hoặc con đường xuyên qua ống đẻ và qua việc bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh. Các vi sinh vật liên quan được thích nghi để tăng trưởng trong đường sinh dục và hiện diện trong các chất tiết của cơ thể hoặc trong máu. Có một BLTQĐTD sẽ làm gia tăng nguy cơ cùng nhiễm với những BLTQĐTD khác; vì vậy, phải thực hiện sàng lọc đầy đủ cho mọi bệnh nhân có chẩn đoán là mới bị BLTQĐTD.

 Thầy thuốc có vai trò thiết yếu trong việc dự phòng và điều trị các BLTQĐTD. Vai trò của người thầy thuốc là hiểu biết về vi khuẩn học của các BLTQĐTD nhằm chẩn đoán và điều trị phù hợp cho bệnh nhân. Việc điều trị nhắm đến làm giảm các triệu chứng và dự phòng các di chứng trong tương lai, cũng như dự phòng việc lây truyền cho người khác đồng thời cung cấp việc chỉ dẫn và tư vấn thích hợp cho bệnh nhân, vì trụ cột của việc dự phòng là thông qua việc sửa đổi lối sống và hành vi. Nhiều nghiên cứu thuần tập đã cho thấy tác dụng bảo vệ của các loại bao cao su nam và nữ trong việc dự phòng phần lớn các BLTQĐTD.

Các điểm chủ yếu để chẩn đoán:

Tất cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục có các giai đoạn dưới mức lâm sàng hoặc giai đoạn ủ bệnh, và bệnh nhân có thể không có triệu chứng.

Thường gặp nhiễm đồng thời với nhiều vi sinh vật khác.

Tất cả những bệnh nhân làm test có bệnh lây truyền qua đường tình dục phải được tầm soát tìm bệnh giang mai và HIV.

Việc khai báo và điều trị cho bạn tình là quan trọng để ngăn ngừa lây truyền thêm và tái nhiễm trong trường hợp cụ thể.

Các xem xét chung

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp nhất là bệnh lậu, giang mai, sùi mào gà-đi kèm với HPV, nhiễm chlamydia sinh dục, nhiễm herpes virus sinh dục, viêm âm đạo do trichomonas, bệnh hạ cam (chancroid), u hạt vùng bẹn (granuloma inguinale), bệnh ghẻ (scabies), bệnh rận mu (louse infestation), và bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) (trong số những phụ nữ có quan hệ tính dục với phụ nữ). Tuy nhiên, bệnh nhiễm shigella; viêm gan virus A, B, và C; bệnh lỵ amíp; bệnh nhiễm Giardia lamblia; bệnh nhiễm Cryptosporidium; bệnh nhiễm salmonella; và bệnh nhiễm campylobacter cũng có thể lây truyền qua đường tình dục (miệng-hậu môn), đặc biệt ở nam giới có quan hệ tình dục với nam giới. Cả tình dục đồng giới và tình dục khác giới đều có những yếu tố nguy cơ lây truyền HIV. Tất cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục có các giai đoạn dưới mức lâm sàng hoặc pha ủ bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc tồn tại kéo dài nhiễm hoặc trong việc lây truyền từ người bị nhiễm (nhưng phần lớn không có triệu chứng) đến người khác. Thường gặp sự nhiễm đồng thời nhiều vi sinh vật khác.

Việc nhiễm trùng biểu hiện điển hình theo một hoặc nhiều cách, mỗi nhiễm trùng lại có chẩn đoán phân biệt khác nhau, phải nhắc nhở (gợi ý) làm các test chẩn đoán phù hợp.

Loét sinh dục

Các bệnh nguyên thường gặp bao gồm herpes simplex virus, giang mai nguyên phát và bệnh hạ cam (chacroid). Những khả năng khác bao gồm bệnh hột xoài hay bệnh u lympho sinh dục (còn gọi là bệnh Nicolas-Favre= lymphogranuloma venerum), u hạt vùng bẹn gây ra bởi Klebsiella granulomatis, cũng như các tổn thương gây ra bởi nhiễm virus Epstein-Barr và HIV. Những nguyên nhân không do viêm nhiễm là  bệnh Behcet, u tân sinh, chấn thương, do thuốc, và chất kích thích.

Viêm niệu đạo có hoặc không có dịch tiết niệu đạo

Những viêm nhiễm thường gặp nhất gây ra tiết dịch niệu đạo là Neisseria gonorrhoeae và C trachomatis. Neisseria gonorrhoeae và C trachomatis cùng thường gây ra viêm tiền liệt tuyến trong số các nam giới có hoạt động tình dục. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác có thể gây ra viêm niệu đạo bao gồm Mycoplasma genitalium, Ureaplasma urealyticum và Trichomonas vaginalis. Các nguyên nhân viêm niệu đạo không do viêm nhiễm bao gồm viêm khớp phản ứng đi kèm với viêm niệu đạo (hội chứng Reiter).

Dịch tiết âm đạo (khí hư)

Các nguyên nhân viêm âm đạo thường gặp là viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) (gây ra bởi sự tăng trưởng quá mức của các vi khuẩn kỵ khí như Gardenella vaginalis), nhiễm candida, và  Trichomonas vaginalis. Các viêm nhiễm ít gặp hơn gây ra viêm âm đạo bao gồm sùi mào gà-đi kèm với HPV và liên cầu nhóm A. Các nguyên nhân không do viêm nhiễm là các thay đổi sinh lý liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, các chất kích thích, và lichen phẳng. Mặc dù Neisseria gonorrhoeae và C trachomatis là những nguyên nhân thường gặp của viêm cổ tử cung, chúng hiếm khi gây tiết dịch âm đạo (khí hư).

Tầm soát và dự phòng

Tất cả những người đã làm test tìm ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục đều phải sàng lọc thường quy để tìm nhiễm HIV bằng cách sử dụng test HIV-nhanh (nếu những bệnh nhân này không thể theo dõi các kết quả thu được bằng các phương pháp chuẩn) hoặc sự khuếch đại nucleic acid được theo sau bởi huyết thanh khẳng định (confirmatory serology) (nếu nhiễm HIV nguyên phát có thể là một khả năng) khi có chỉ định. Những bệnh nhân mà đã được chẩn đoán và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (đặc biệt là chlamydia hoặc bệnh lậu) đều có nguy cơ tái nhiễm cao và phải được khuyến khích tầm soát lại tìm các bệnh lây truyền qua đường tình dục vào lúc 3 tháng kể từ khi có chẩn đoán các bệnh lây truyền qua đường tình dục lúc đầu.

Những bệnh nhân không có triệu chứng thường yêu cầu tầm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục vào thời điểm bắt đầu một quan hệ tình dục mới. Phải đề nghị làm test HIV và test huyết thanh viêm gan B cho tất cả các bệnh nhân như vậy. Ở những phụ nữ hoạt động tình dục mà không được tầm soát mới đây, khuyến cáo làm test Papanicolaou cổ tử cung và test khuếch đại nucleic acid của một mẫu nước tiểu để tìm gonorrhoeae và chlamydia. Trong số những người nam có quan hệ tình dục với người nam, khuyến cáo tầm soát bổ sung để tìm giang mai; viêm gan A; bệnh lậu ở niệu đạo, hầu họng, và trực tràng; cũng như tìm chlamydia ở niệu đạo và trực tràng. Test khuếch đại nucleic acid đã được FDA chấp nhận để làm test nước tiểu tìm gonorhea hoặc chlamydia. Tuy nhiên, việc sử dụng test khuếch đại nucleic acid của các chất tiết ở trực tràng và hầu họng đã không được công nhận có giá trị ở nhiều phòng xét nghiệm. Không có các khuyến cáo nhằm tầm soát cho nam giới quan hệ tình dục khác giới để tìm chlamydia niệu đạo, tuy nhiên điều này có thể được cân nhắc ở các phòng khám bệnh lây truyền qua đường tình dục, các phòng khám tuổi vị thành niên, hoặc các cơ sở cải tạo, cai nghiện. Tính định kỳ của việc tầm soát sau đó tùy thuộc vào nguy cơ tình dục, tuy nhiên hầu hết việc tầm soát phải được đề nghị ít nhất hàng năm đối với người trưởng thành có hoạt động tình dục (đặc biệt cho những người ≤ 25 tuổi). Nếu chưa có miễn dịch, khuyến cáo việc tiêm phòng vaccine viêm gan B cho mọi người trưởng thành có hoạt động tình dục và tiêm phòng viêm gan A cho những nam giới có quan hệ tình dục với nam. Phải đề nghị tiêm phòng vaccine chống HPV cho những người từ 9 đến 26 tuổi.

Nguy cơ phát triển một bệnh lây truyền qua đường tình dục sau một sự hiếp dâm (sexual assault) thì khó để xác định một cách đúng đắn do các tỷ lệ cao của các viêm nhiễm cơ bản và do khó theo dõi. Các nạn nhân của hiếp dâm có tỷ lệ viêm nhiễm cơ bản cao (N gonorrhoeae, 6%; C trachomatis, 10%; T vaginalis, 15%; và viêm âm đạo do vi khuẩn, 34%), và nguy cơ nhiễm trùng mắc phải do hậu quả của hiếp dâm là đáng kể nhưng thường thấp hơn tỷ lệ có trước (N gonorrhoeae, 6-12%; C trachomatis, 4-7%; T vaginalis, 12%; giang mai, 0,5-3%; và viêm âm đạo do vi khuẩn, 19%). Phải đánh giá các nạn nhân trong vòng 24 giờ sau khi bị hiếp dâm, và phải thực hiện các test khuếch đại nucleic acid tìm N gonorrhoeae và C trachomatis. Thu thập các chất tiết của âm đạo để tìm Trichomonas soi tươi và nuôi cấy, hoặc làm point-of-care test. Nếu có khí hư hiện diện, nếu có ngứa, hoặc nếu các chất tiết có mùi hôi, phải soi tươi để tìm Candida và viêm âm đạo do vi khuẩn. Ngoài ra, phải lấy một mẫu máu để làm ngay test huyết thanh tìm giang mai, viêm gan virus B, và HIV. Khám theo dõi tìm các bệnh lây truyền qua đường tình dục phải được lặp lại trong vòng 1 – 2 tuần, vì vào thời điểm khám ban đầu, các nồng độ của các vi sinh vật gây nhiễm có thể không đủ để tạo ra một test dương tính. Nếu đã cho điều trị dự phòng (có thể bao gồm việc tiêm phòng vaccine viêm gan B sau khi phơi nhiễm mà nạn nhân không có globulin miễn dịch viêm gan B; điều trị nhiễm chlamydia, gonorrhoeae, hoặc trichomonas; và thuốc ngừa thai khẩn cấp), chỉ làm lại các test nếu như nạn nhân có các triệu chứng. Nếu không cho điều trị dự phòng, phải theo dõi nạn nhân cụ thể này trong 1 tuần nhằm mục đích có thể điều trị nếu có bất kỳ test nào dương tính. Theo dõi việc làm test huyết thanh tìm giang mai và nhiễm HIV phải được thực hiện ở tuần thứ 6, 12, 24 nếu như test ban đầu âm tính. Tính hữu ích của việc điều trị có cơ sở (presumptive therapy) vẫn còn tranh cãi, một số tác giả cảm thấy rằng tất cả các bệnh nhân cần được điều trị, một số khác lại cảm thấy nên giới hạn việc điều trị này ở những nạn nhân mà không thể bảo đảm việc theo dõi hoặc đối với những bệnh nhân yêu cầu điều trị (giang mai và HIV).

Mặc dù việc chuyển đổi huyết thanh sang HIV đã được báo cáo sau khi bị hiếp dâm khi đây là nguy cơ duy nhất đã được biết, người ta tin rằng nguy cơ này là thấp. Khả năng lây truyền HIV từ việc giao hợp ngả âm đạo hoặc ngả hậu môn khi nguồn HIV dương tính đã được biết là 1/1000 với ngả âm đạo và 5/1000 với ngả hậu môn. Mặc dù liệu pháp dự phòng chống retrovirus chưa được nghiên cứu trong bối cảnh này, Cơ quan về các dịch vụ Sức khỏe và Con người (Department of Health and Human Services) Hoa Kỳ khuyến cáo xây dựng ngay lập tức việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với liệu pháp hoạt tính cao chống retrovirus nếu như nạn nhân yêu cầu được điều trị trong vòng 72 giờ từ khi bị hiếp dâm, kẻ hiếp dâm được biết là có HIV dương tính, và việc phơi nhiễm cho thấy nguy cơ lây truyền là có thật.

Bên cạnh việc tầm soát các bệnh nhân bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục không có triệu chứng, các chiến lược khác để ngăn ngừa việc lây truyền thêm bao gồm việc đánh giá các bạn tình và cho tiêm phòng trước khi phơi nhiễm đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể dự phòng, cho các cá thể có nguy cơ; các chiến lược khác bao gồm việc sử dụng thường xuyên bao cao su cho cả nam và nữ. Đối với mỗi bệnh nhân, có một hoặc nhiều sự tiếp xúc tình dục (tại chỗ) cần phải chẩn đoán và điều trị. Điều trị nhanh chóng các tiếp xúc tại chỗ này bằng cách cho kháng sinh cho mỗi trường hợp cụ thể nhằm phân phối đến mọi tiếp xúc tình dục (liệu pháp phân phối-bệnh nhân) là một chiến lược quan trọng để ngăn ngừa thêm việc lây truyền và ngăn ngừa sự tái nhiễm trong từng trường hợp cụ thể.

Cần nhớ rằng, các chất diệt tinh trùng bôi âm đạo và bao cao su có chứa nonoxynol-9 không cung cấp thêm việc bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Việc cắt bao quy đầu ở nam giới đã cho thấy là bảo vệ chống lại sự mắc phải HIV và HPV ở người nam có quan hệ tình dục khác giới với các bạn tình bị nhiễm HIV. Việc bắt đầu sớm của liệu pháp chống retrovirus ở những người bị nhiễm HIV có thể phòng ngừa sự mắc phải HIV ở một bạn tình không bị nhiễm. Cũng vậy, việc điều trị dự phòng trước khi phơi nhiễm với viên thuốc ngày uống 1 viên chứa tenofovir + emtricitabine (once-daily pill containing tenofovir plus emtricitabine) đã cho thấy có hiệu quả dự phòng nhiễm HIV trong số những nam giới nguy cơ cao có quan hệ tình dục với nam.

Khi nào thì tham vấn

Những bệnh nhân có chẩn đoán mới bị HIV.

Những bệnh nhân có các bệnh lây truyền qua đường tình dục dai dẳng, khó trị, tái phát, đặc biệt là khi nghi ngờ có kháng thuốc.

BS.CKII Nguyễn Gia Định  
Số lượt xem:4442
Bài viết liên quan:
Icon  Hướng dẫn về công tác phòng chống bệnh dại trên người
Icon  Điều trị hen phế quản
Icon  Bí tiểu sau sinh, sau mổ lấy thai
Icon  Hen phế quản
Icon  Bệnh đái tháo đường
Icon  Phòng chống rối loạn do thiếu I-ốt
Icon  Tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất lượng bệnh viện
Icon  Tài liệu: Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho giảng viên
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho nhân viên y tế
THÔNG BÁO
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
THÔNG TIN CHUNG
HÌNH ẢNH
VIDEO

 

Trang chủ        |      Đăng nhập      
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM
 © Trang thông tin điện tử Sở Y Tế thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum - Giấy phép số 27/GP-BC, ngày 25/01/2006
    Quản lý và nhập tin: Sở Y Tế, số 808 - Phan Đình Phùng - TP Kon Tum.  
    Người chịu trách nhiệm chính: Đào Duy Khánh. Giám đốc Sở Y Tế tỉnh Kon Tum
    Điện thoại: 0260.3862351; Fax: 0260 3.863048 - 0260 3.861507; Email: soyte-kontum@chinhphu.vn
Phát triển: TNC