Thứ 5, ngày 14 tháng 11 năm 2019

 

BÀI GIẢNG, KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ Y HỌC
Bí tiểu sau sinh, sau mổ lấy thai
In bài viết
24-3-2017
Bí tiểu là tình trạng rối loạn đường tiểu, biểu hiện bằng cảm giác muốn đi tiểu nhưng không thể tiểu được và có cầu bàng quang khi khám.

1. Định nghĩa: Bí tiểu là tình trạng rối loạn đường tiểu, biểu hiện bằng cảm giác muốn đi tiểu nhưng không thể tiểu được và có cầu bàng quang khi khám.

2. Nguyên nhân:

- Trong chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp, thường là đầu thai nhi đè vào cổ bàng quang hay niệu đạo gây ứ đọng nước tiểu làm bàng quang căng giãn. Khi giãn nhiều làm mất trương lực, làm co thắt cơ cổ bàng quang.

- Trường hợp sau sinh phải cắt khâu tầng sinh môn, làm chỗ khâu sưng nề, đau làm cho người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu vì sợ đau.

- Sau khi sinh, bàng quang không nhạy cảm với kích thích khi nước tiểu đầy, gây bí tiểu.

Ngoài ra, khi bí tiểu, động tác thông tiểu nhiều lần gây viêm bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ.

- Nguyên nhân sau mổ đẻ:

+ Do gây mê, gây tê: Thuốc gây tê tủy sống có Bupivacain + Fentanyl (thuộc nhóm opioid) có tỷ lệ gây bí tiểu 10 - 15% sau mổ. Do đó, phải kiên nhẫn chờ cho đến khi hết tác dụng của thuốc.

+ Thần kinh quá lo lắng.

+ Tổn thương do thủ thuật thô bạo, dập bàng quang gây liệt bàng quang gây bí tiểu. Ví dụ: Phòng mổ/phòng sinh khi đặt sonde tiểu Foley có bơm bóng nhưng lại không cố định kỹ vào đùi nên khi nước tiểu đầy kéo căng sonde gây chèn ép, phù nề cổ bàng quang gây bí tiểu; cho học sinh thực tập rút sonde tiểu không đúng kỹ thuật, không tháo hơi trong bóng (cuff) trước khi rút, kéo luôn cả bóng chưa tháo hơi gây tổn thương phù nề cổ bàng quang;…

3. Điều trị:

Điều trị nhằm khôi phục lại trương lực bàng quang, giúp bàng quang co bóp, bằng những biện pháp sau:

3.1. Phòng ngừa:

- Vận động sớm.

- Uống nhiều nước.

- Không nên nín tiểu. Khuyến khích người mẹ tự đi tiểu không nên lo sợ đau đớn đối với vết may tầng sinh môn.

- Tập ngồi tiểu theo tư thế bình thường (tư thế ngồi tiểu tự nhiên).

- Rửa hoặc ngâm vùng sinh dục bằng nước ấm (dội âm hộ bằng nước ấm), hoặc nước rửa vệ sinh phụ khoa như Gynofar, Lactacyd FH.

- Luôn luôn giữ khô vùng âm hộ.

- Tránh nhiễm trùng vết may tầng sinh môn.

- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp phục hồi sức khỏe sau sinh.

3.2. Điều trị:

a) Nguyên tắc điều trị:

Tuân theo 4 nguyên tắc sau:

- Tập đi tiểu để tạo lại phản xạ đi tiểu.

- Dùng kháng sinh chống nhiễm trùng.

- Dùng kháng viêm chống phù nề chèn ép cổ bàng quang.

- Hỗ trợ tăng trương lực bàng quang giúp khả năng co bóp bàng quang trở lại bình thường.

b) Thứ tự xử trí khi bí tiểu:

- Dội nước ấm vùng âm hộ, vận động sớm, tập đi tiểu.

- Nếu thủ thuật trên thất bại thì đặt sonde tiểu và lưu trong 24 giờ.

- Tập bàng quang:

+ Đặt sonde tiểu giữ lại và tháo kẹp mỗi 3 - 4 giờ/lần, tạo lại phản xạ đi tiểu  (lưu ý: khi tháo kẹp, người mẹ phải tập rặn tiểu qua sonde).

+ Trước khi rút sonde tiểu, kẹp sonde tiểu 4 giờ, chờ cảm giác mót tiểu, cho người mẹ rặn tiểu qua sonde, nếu tiểu được qua sonde thì mới rút sonde.

- Dùng thuốc (khi các phương pháp trên thất bại):

+ Prostigmine 0,5 mg (Tiêm bắp mỗi ngày);

+ hoặc Domitazol 2 viên x 2 lần uống trong 5 ngày;

+ hoặc Xatral SR 5 mg 01 viên x 2 lần uống trong 5 ngày.

Ngoài ra, kết hợp các thuốc vitamin B1, B6, B12 nhằm tăng cường sức khỏe.

+ Có thể điều trị bằng Đông y, châm cứu.

- Nếu sử dụng thuốc không hiệu quả thì tiến hành đặt sonde tiểu.

* Các điểm cần lưu ý khi thông tiểu:

- Dụng cụ (nhất là sonde tiểu) phải tuyệt đối vô khuẩn để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng.

- Kỹ thuật thực hiện phải đúng quy trình và vô khuẩn.

- Không được dùng sonde tiểu có kích cỡ quá lớn (gây tổn thương, phù nề).

- Động tác phải nhẹ nhàng (tránh thô bạo), nếu vướng phải làm lại hoặc bảo bệnh nhân há miệng thở đều để giảm co thắt niệu đạo.

- Nếu cần lấy nước tiểu thử vi khuẩn phải lấy nước tiểu giữa bãi (giữa dòng), nên lấy trực tiếp vào ống nghiệm vô khuẩn.

- Không để lưu sonde tiểu quá 48 giờ (trừ trường hợp có chỉ định của bác sỹ).

- Không thông tiểu nhiều lần trong ngày.

- Nếu bệnh nhân bí tiểu có bàng quang quá căng, phải rút nước tiểu chậm và không rút hết nước tiểu trong bàng quang, vì sẽ làm giảm áp lực đột ngột trong bàng quang và gây chảy máu (cách dự phòng chảy máu là đặt sonde tiểu cỡ nhỏ cho chảy chậm, hoặc đặt sonde tiểu cỡ bình thường và kẹp rồi tháo rồi kẹp để làm giảm áp lực từ từ).

- Theo dõi bàng quang trong và sau khi thông tiểu để phát hiện những dấu hiệu bất thường và có xử trí kịp thời./.

BS CK II. Nguyễn Gia Định  
Số lượt xem:15055
Bài viết liên quan:
Icon  Hen phế quản
Icon  Bệnh đái tháo đường
Icon  Phòng chống rối loạn do thiếu I-ốt
Icon  Tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất lượng bệnh viện
Icon  Tài liệu: Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho giảng viên
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho nhân viên y tế
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho nhân viên thu gom vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho cán bộ quan trắc môi trường y tế
Icon  Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục quản lý chất thải y tế cho nhân viên vận hành hệ thống xử lý chất thải y tế
THÔNG BÁO
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
THÔNG TIN CHUNG
HÌNH ẢNH
VIDEO

 

Trang chủ        |      Đăng nhập      
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM
 © Trang thông tin điện tử Sở Y Tế thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum - Giấy phép số 27/GP-BC, ngày 25/01/2006
    Quản lý và nhập tin: Sở Y Tế, số 808 - Phan Đình Phùng - TP Kon Tum.  
    Người chịu trách nhiệm chính: Đào Duy Khánh. Giám đốc Sở Y Tế tỉnh Kon Tum
    Điện thoại: 0260.3862351; Fax: 0260 3.863048 - 0260 3.861507; Email: soyte-kontum@chinhphu.vn
Phát triển: TNC