Các văn bản chỉ đạo về công tác CCHC Thông tin kết quả triển khai CCHC của Sở Y tế Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 Danh mục thủ tục hành chính Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tại Sở Y tế Dịch vụ công trực tuyến Chi cục ATVSTP Quy trình xử lý TTHC Hướng dẫn thực hiện dịch vụ công trực tuyến Sở Y tế Cuộc họp, hội nghị, hội thảo không giấy
Thứ 2, ngày 28 tháng 5 năm 2018
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
    THỐNG KÊ TRUY CẬP
NguoiTruyCapTổng số người truy cập:
583414
THÔNG TIN KHOA HỌC

Việc đưa vào áp dụng chương trình quản lý sử dụng kháng sinh (AMS) thường kèm theo sự thay đổi thái độ kê đơn kháng sinh (KS) rõ rệt. Nguyên do của sự thay đổi này có thể là “quy ước kê đơn được thừa nhận” (prescribing etiquette) đã được mô tả ở những nghiên cứu định tính trước đây.

Để chào mừng kỷ niệm 63 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955-27/02/2018), sáng ngày 27/02/2018, Sở Y tế tổ chức Hội nghị khoa học ngành Y tế năm 2018.

Sáng ngày 26/01/2018, tại Hội trường Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum đã tổ chức Hội nghị Khoa học Y Dược - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum lần thứ VII.

Hướng tới Lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Hội Y học dự phòng Việt Nam (1961-2016) và Đại hội Hội Y học dự phòng Việt Nam nhiệm kỳ 2017-2022. Ngày 19/10/2017, tại thành phố Đà Nẵng, Hội Y học dự phòng Việt Nam phối hợp Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tổ chức Hội nghị khoa học Y học dự phòng toàn quốc năm 2017 với chủ đề “Y học dự phòng Việt Nam - Đồng hành vì sức khỏe cộng đồng”.

Kháng thuốc tự nhiên là khả năng tự thân của loài vi khuẩn kháng lại hoạt tính của một chất kháng khuẩn nhờ vào những đặc điểm hình thái hoặc chức năng sẵn có, giúp vi khuẩn chịu đựng tác động của loại thuốc hay nhóm kháng sinh (KS) đó.

Đặt vấn đề: Phòng ngừa lây truyền mẹ-con của viêm gan siêu vi B mạn trong bối cảnh lượng vi rút ở mẹ cao vẫn đang còn là một thách thức. Một sáng kiến được đưa ra là điều trị Tenofovir kết hợp với điều trị dự phòng miễn dịch trước sinh.

Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Bình và cộng sự về sự hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) tại các bệnh viện thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016 bằng Phiếu khảo sát do Bộ Y tế ban hành, cho thấy điểm trung bình và tỷ lệ hài lòng chung của NVYT tại bệnh viện là 3,94 ± 0,09 và 86,2%.

Để trở thành một điều dưỡng giỏi, rất cần đến kỹ năng giao tiếp tuyệt hảo. Khả năng truyền đạt và kết nối với người bệnh (NB) và với nhân viên y tế khác giúp tạo ra được những mối quan hệ, phòng ngừa mắc lỗi và có được một mức chăm sóc tốt hơn.

Chất lượng dịch vụ đã không còn là một khái niệm mới cho những ai đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe vì nó chính là yếu tố quan trọng làm tăng khả năng cạnh tranh của các bệnh viện.

Khoảng 10% bệnh nhân bị tổn hại từ chăm sóc y tế, và trong số này, người ta cho rằng 15% có liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc. Mặc dù vậy, các số liệu về an toàn dùng thuốc không thường được các cơ sở chăm sóc y tế thu thập một cách thường quy nhằm mục đích cải tiến chất lượng.

Đặt vấn đề: Bằng chứng từ những nước đã phát triển cho thấy các sai sót trong dùng thuốc là khá phổ biến và nguy hiểm. Còn nhiều điều chưa được biết về sai lầm trong dùng thuốc ở những cơ sở có nguồn lực hạn chế, trong đó có Việt Nam.

Mục tiêu của nghiên cứu này là: (1) giải thích một cách hợp lý giả thuyết cho rằng các nguy cơ và các mất mát liên quan đến sai sót trong quy trình sử dụng thuốc ở những bệnh viện của Tiệp Khắc ít nhất cũng tương đương với những bệnh viện khác ở những nước đã phát triển và đặc biệt là ở Châu Âu;

Bệnh viện đang ngày càng trở thành môi trường phức tạp do những phát triển về công nghệ y học, các phương pháp điều trị có hiệu quả cao hơn và dân số - người bệnh ngày càng già hơn, phụ thuộc hơn.

Tóm tắt: Khoảng 300 triệu người trên toàn thế giới bị nhiễm vi rút viêm gan B (VGB) dai dẳng và có nguy cơ bị ung thư gan và xơ gan, điều này thường dẫn đến suy gan giai đoạn cuối. Mặc dù tính hiệu quả của chiến lược tiêm phòng hiện nay, tần suất mắc bệnh vẫn còn cao mang lại gánh nặng thật sự cho chăm sóc y tế. Những chiến lược điều trị vi rút hiện hành hoặc là không hiệu quả hoặc là chỉ làm vi rút ngừng nhân lên chứ chưa thật sự chữa lành bệnh. Những nỗ lực gần đây đều tập trung vào việc cải thiện tỷ lệ chữa lành bệnh đối với VGB mạn tính và phát triển những chiến lược loại bỏ tế bào bị nhiễm vi rút.

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định thời gian mà người bệnh (NB) chờ đợi tại các điểm khám bệnh ngoại trú Bệnh viện Abuja, nhằm lượng giá cảm nhận của NB về thời gian chờ đợi được khám và mô tả mức hài lòng của NB về các dịch vụ họ nhận được.

BS. John Carnett lần đầu tiên mô tả triệu chứng này vào năm 1926. Về cơ bản, triệu chứng thực thể này là khi khám bụng chúng ta tìm thấy điểm đau nhiều nhất. Cái cách mà BS. Carnett mô tả nó lúc ban đầu là khi chúng ta đặt bàn tay lên điểm đau nhất đó và bảo người bệnh vòng tay lên ngực rồi sau đó ngồi bật dậy: Nếu đau tăng hơn thì đau có nguồn gốc cơ xương nhiều hơn là nguồn gốc trong ổ bụng.

Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát sự hài lòng của người bệnh (SHLNB) với thời gian chờ đợi bằng mức điểm CTAS (Canadian Triage and Acuity Scale - Thang điểm nhận định và phân loại bệnh nhân cấp cứu của Canada) trước và 6 tháng sau khi kế hoạch này được đưa vào ứng dụng.

Bà Margaret Chan, Giám đốc điều hành chung của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng khi vụ dịch do vi rút Zika xảy ra ở Nam Mỹ vào đầu tháng 02 năm 2016, sau đó đã có những khuyến cáo của một Hội đồng chuyên môn đặc biệt về khả năng có mối liên quan giữa chứng não nhỏ ở trẻ sơ sinh với nhiễm loại vi rút này.

Cùng với các loại siêu vi (vi rút) Dengue, Chikungunya, vi rút Zika hiện nay đang gây bệnh dịch trên toàn châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, và là mối quan tâm phòng dịch hàng đầu hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Xin lướt qua những câu hỏi thường được đặt ra về loại vi rút Zika, giúp cho chúng ta có được một số hiểu biết về loại vi rút mới nổi này.

Câu trên đây chính là cam kết của các bác sỹ và nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum trong Tuần lễ truyền thông về phòng chống kháng thuốc tại Việt Nam do Bộ Y tế tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22/11/2015.

Lên đến 50% sử dụng kháng sinh trong bệnh viện là không phù hợp. Trong nhiễm trùng bệnh viện gây ra bởi vi khuẩn kháng kháng sinh có liên quan đến tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và thời gian nằm viện kéo dài so với nhiễm trùng do vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh. Tiêu chảy do Clostridium difficile (CDAD) là một nhiễm trùng bệnh viện gây ra do sử dụng kháng sinh.

ĐỊNH NGHĨA 1. HAP (Hospital Acquired Pneumonia = Viêm phổi mắc phải tại bệnh viện): chẩn đoán được xác lập > 48 giờ sau khi nhập viện.

Tế bào gốc từ mô mỡ (Adipose derived stem cells - ADSC) được phát hiện đầu tiên vào năm 1980 (Plaas và Vryer). Các tác giả cho rằng, mô mỡ bò trưởng thành chứa tế bào có tiềm năng biệt hóa từ tế bào giống nguyên bào sợi thành tế bào mỡ. Một số nghiên cứu đã kiểm tra sự tồn tại của tế bào gốc trong mô mỡ ở các loài khác nhau cũng cho kết quả tương tự (Huang, Beanes et al. 2002 ; Nathan, Das De et al. 2003; Tholpady, Katz et al. 2003 ; Kang, Putam et al. 2004 ; Ogawa, Mizuno et al. 2004 ; Safford, Safford et al. 2004).

Trang sau
THÔNG BÁO
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
THÔNG TIN CHUNG
HÌNH ẢNH
VIDEO
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Trang chủ        |      Đăng nhập      
 © Trang thông tin điện tử Sở Y Tế thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum - Giấy phép số 27/GP-BC, ngày 25/01/2006
    Quản lý và nhập tin: Sở Y Tế, số 808 - Phan Đình Phùng - TP Kon Tum.  
    Người chịu trách nhiệm chính: Đào Duy Khánh. Giám đốc Sở Y Tế tỉnh Kon Tum
    Điện thoại: 060.3862351; Fax: 060 3.863048 - 060 3.861507; Email: soyte-kontum@chinhphu.vn